Friday, October 24, 2014
   
Text Size
Nhận Thức Không Phân Cực

LỊCH HOẠT ĐỘNG TẠI

Đồng Nai 21/10 - 26/10

Đồng Nai : Tổ 3 khu Phước Hải, thị trấn Long Thành, huyện Long Thành (Nhà Thi Đấu Đa Năng huyện Long Thành)

  • Khóa Thiết kế cuộc đời

        19h00 đến 20h30 tối ngày T3 (21/10), T4 (22/10), T5(23/10), T6(24/10)

  • Thiền tâp thể kết hợp với chữa trị hàn gắn

        08h30 đến 10h00 sáng ngày T7 (25/10), CN (26/10)

  • Hỗ trợ : Tri 0928856616
  • Chi phí : Đóng góp thiện nguyện

NGUYÊN LÝ CỦA HUONGCLASS - TỪ PHÂN CHIA VỀ HỢP NHẤT

NHẬN THỨC KHÔNG PHÂN CỰC

Bỏ nhận thức phân cực là con đường phá vô minh, diệt chấp ngã, thoát luân hồi

Q : Tư tưởng phân cực là gì ?

A : Là nhận thức đối tượng đúng/sai, xấu/tốt, hay/dở, chánh/tà, ánh sáng/bóng tối, cao/thấp …

Q : Lúc trước em rất thích đạo Phật và tìm hiểu về đạo Phật, nhưng một thời gian sau không hiểu tại sao trong đầu lại xuất hiện những ý nghĩ xấu kiểu phỉ báng đạo Phật. Em không hiểu lí do tại sao.

A : Đây là việc bình thường. Nhận thức về bất kỳ đối tượng nào đều thay đổi theo trải nghiệm.

Q : Làm thế nào để có thể xóa bỏ nó ạ ?

A : Đạo Phật hay tình cảm của em với đạo Phật chỉ là các đối tượng của nhận thức. Quan sát đối tượng, bên trong và bên ngoài, như là chính nó thôi. Chỉ cần quan sát khách quan về đạo Phật như là em đang thấy, không cần đánh giá. Chỉ cần ghi nhận chân thực về trạng thái tình cảm của em với đạo Phật trong hiện tại, không cần xóa bỏ. Trải nghiệm đạo Phật một cách tự nhiên. Không phủ nhận trải nghiệm và cũng không cưỡng bức trải nghiệm.

Q : Những ý nghĩ ấy xuất hiện lúc em học. Em cảm thấy rất mệt ạ.

A : Tâm nhận biết những gì xảy ra có, bao gồm nghĩ gì và cảm xúc gì là tâm thiền. Đây là một khởi đầu rất tốt cho việc thực hành thiền minh sát hay chánh niệm. Hãy ghi nhận ý nghĩ một cách khách quan mà không để bị cuốn theo ý nghĩ. Hãy quan sát ý nghĩ với tâm bình an mà không cần ghét bỏ hay sợ hãi ý nghĩ. Hãy quan sát ý nghĩ như thể đó là ý nghĩ của người khác. Tâm quan sát là một tâm có mức năng lượng khác với tâm suy nghĩ và tâm xúc cảm. Minh triết đến từ việc nhận thức đối tượng một cách khách quan, không quá chú tâm, không phán xét, không ham ghét và không phản ứng. Sự phán xét, mê đắm, chán ghét và nỗ lực phủ nhận một đối tượng, thay vì chỉ quan sát đối tượng luôn gây căng thẳng trong tâm. Sự phán xét, cùng với nó là tình cảm mê đắm, chán ghét tạo nên lớp kính màu làm cho hỉnh ảnh của đối tượng bị méo mó, trong khi đối tượng thì vẫn tồn tại khách quan, bên ngoài lớp kính đó.

Q : Em sợ những ý nghĩ xấu cứ theo em suốt cuộc đời mất

A : Đừng quan tâm đến tương lai. Hãy sống trong hiện tại. Đừng phán xét ý nghĩ là xấu hay tốt. Chỉ cần ghi nhận là mình đang nghĩ. Mục đích của trải nghiệm là để thấu hiểu hiện thực và hiện tại. Hãy thấu hiểu đạo Phật. Hãy thấu hiểu chính mình. Thấu hiểu đối tượng không phải là phán xét đối tượng xấu hãy tốt. Không thể có thấu hiểu nếu còn phán xét. Chúng ta thường nhầm lẫn rằng ­­­­­cái đích của nhận thức về đối tượng là biết rằng đối tượng xấu hay tốt. Khi có thông tin, quan sát, trải nghiệm về một đối tượng, chúng ta kết luận rằng đối tượng tốt hoặc xấu. Cho rằng đã nhận biết đối tượng, chúng ta thỏa mãn và kỳ vọng quá trải nghiệm sẽ dừng lại ở đó, nhận thức sẽ dừng lại ở đó. Tuy nhiên, trải nghiệm và nhận thức là một quá trình tự nhiên và bất tận. Thêm trải nghiệm, đổi kết luận. Đổi kết luận về đối tượng từ xấu sang tốt rồi lại từ tốt sang xấu, thì hành động cũng sẽ thay đổi theo, và tâm sẽ trở nên bất an.

Q : Em thấy em nghiệp nặng quá

A : Nếu còn đồng hóa nhận thức với phán xét, như đạo Phật tốt hay xấu, như bản thân hay hoặc dở, như nghiệp quả nặng hay nhẹ thì còn đau khổ và bất an. Không còn tư tưởng phân cực xấu/tốt, đúng/sai, hay/dở về đối tượng bên trong, bên ngoài, danh sắc và tinh thần thì cũng không còn chấp ngã, không còn vô minh và không còn luân hồi.

Q : Rắc rối quá chị ơi

Không phải một việc, một con người, một đối tượng sai, xấu, dở là rắc rối. Rắc rối thực sự là thói quen thay thế nhận thức tự nhiên bằng phán xét chủ quan. Hàng nghìn năm nay, con người đã đi theo lối mòn rằng cái gì cũng phải đúng/sai, hay/dở, chánh/tà, xấu/tốt, dữ/lành ... mà chẳng có cái gì là đúng/sai, hay/dở, chánh/tà, xấu/tốt, dữ/lành ... Mọi đối tượng chỉ là chính nó. Hòn đá, cái cây, con hổ chỉ là hòn đá, cái cây, con hổ. Không có hòn đá xấu, không có cái cây lành, không có con hỗ dữ. Tình cảm chỉ là tình cảm, không có tình cảm xấu hay tốt. Suy nghĩ chỉ là suy nghĩ, không có suy nghĩ chánh hay tà. Nghiệp quả chỉ là quy luật, không có quy luật hay hoặc dở. Một đối tượng với người này là hay, với người khác là dở, thời điểm này là hay, thời điểm khác là dở, chỗ này là hay chỗ khác là dở. Chúng ta không thể nào quen với việc chỉ nhận thức mà không phán xét. Chúng ta sợ trạng thái quan sát tự nhiên, cho rằng phán xét và phản ứng thể hiện trí tuệ. Suy cho cùng chẳng ai đồng ý với ai, chẳng ai biết rõ ràng rằng thế nào là hay và thế nào là dở. Chúng ta cứ mang những thước đo đúng/sai, hay/dở, chánh/tà, xấu/tốt, dữ/lành mù mờ trong tâm mình mà phán xét từ bản thân đến vũ trụ này, chính vì thế mà có chiến tranh và có khổ đau, có vô minh và có luân hồi. Bỏ tư tưởng phân cực là con đường xóa chấp ngã, phá vô minh và thoát luân hồi.

SP_READ_MORE

Tư tưởng phân cực

Tư tưởng phân cực

Phân cực là nhận thức một hiện thực khách quan thành những cấu phần tách rời nhau, và không liên kết đươc tổng thể.

Bản ngã phản ứng với thế giới bên ngoài, bằng một chương trình tư tưởng phối hợp giữa tình cảm và tư duy tuyến tính xoay quanh một tiêu chí phân cực. Tình cảm mang năng lượng của trung giới và tư duy duy lý theo hình thể mang năng lượng của chiều trí giới. Sự kết hợp này tạo cá tính của cái tôi thấp.

Mọi dạng phân cực đều dẫn đến phản ứng bằng tình cảm ham muốn, ghét bỏ, sợ hãi dựa trên sự phán xét cái này hay hơn cái kia, đẹp hơn cái kia, tốt hơn cái kia.... Lý trí đánh giá một hiện tượng hay sự việc hữu hình (bao gồm cả siêu hình) và tình cảm đưa đến hành động phản ứng với hiện thực khách quan.

Mọi dạng phân cực đều ngầm chứa một tiêu chí hình thể. Nhiều nhà ngoại cảm, chủ yếu với các hiện tượng của thế giới âm có thể phân cực theo tiêu chí hình thể hơn là người không có khả năng ngoại cảm. Người không nhìn thấy ma, không thể định nghĩa ma là gì, nhưng mà vẫn thường xuyên sợ ma, ghét ma, đánh ma, thương ma, tự trách mình vì ma, ám ảnh về ma, lợi dụng ma, can thiệp vào việc riêng của ma … vẫn là phân cực theo tiêu chí hình thể phi vật lý.

Về căn bản, những người vượt qua vượt qua lý tính phán xét và cảm xúc yêu ghét và sợ hãi thì sẽ không còn tư tưởng phân cực nữa.

Phân cực tình cảm và lý trí

Phân cực nặng về tình cảm phán xét một cầu phần tốt/xấu hơn một cấu phần khác. Phân tích so sánh không nhất thiết là phân cực dù rằng mọi tư tưởng phân cực đặc biệt về tình cảm đều ngầm chứa một sự so sánh. Phát biểu rằng “biển rộng hơn hồ” không đồng nghĩa với yêu biển và ghét hồ. Đánh giá “một người sinh năm 1970 nhiều tuổi đời hơn người sinh năm 2000” là một quan sát khách quan. Nhưng cho rằng càng rộng càng nguy hiểm hoặc càng nhiều tuổi càng thông tuệ là một dạng phân cực tình cảm.

Phân cực nặng về lý trí là chỉ chú ý đến hay nhận thức được một cấu phần nào đó của tổng thể. Nhận thức thiếu cũng là một dạng phân cực lý trí đặc biệt như cho rằng thế giới chỉ có hữu hình và siêu hình, chỉ có âm và dương, chỉ có thiện và ác.

SP_READ_MORE

Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui, chọn mãi không ra nên tôi ... lại buồn

Phân cực tình cảm

Một lần, mình nổi hứng yêu cầu một người hay phê phán người khác là tà ma hãy định nghĩa chính xác tà ma là gì. Anh ấy không định nghĩa được, nhưng lại thực hành được. Trong tích tắc, thái độ của anh ấy với mình đảo cực từ chính nghĩa thành tà ma.

Lần khác trước câu hỏi "Ánh sáng mạnh hơn hay Bóng tối mạnh hơn ?", mình suýt mắc bệnh nghề nghiệp yêu cầu người hỏi làm rõ khái niệm "mạnh & yếu", "ánh sáng & bóng tối", nhưng kiềm chế lại.

Con trai mình thích ngâm nga câu này, vừa hát vừa cười hic hic : "Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui. Chọn mãi không ra nên tôi ... lại buồn". Người phân cực tình cảm là như vậy !

Phán xét là ảo ảnh của tâm

Vạn sự do tâm tạo ra. Con người nhìn thế giới qua cặp mắt, nhưng nhận thức được thế giới bằng tâm thức. Một số người bừng bừng nhiệt huyết cho cuộc chiến thiện & ác, thực tế đang đánh nhau với ảo ảnh trong tâm trí của mình.

Người phân cực tình cảm nhìn thế giới qua một cặp kính đổi màu. Trục kính là khái niệm nào đó như là nhân loại, tôn giáo, Trái đất, tiền bạc, tâm linh...Qua cặp kinh đó, mọi thứ đều được phán xét thành xấu - tốt, đúng - sai, chánh - tà, ánh sáng - bóng tối, hay - dở, mạnh - yếu. Kết quả sẽ có tiền xấu, Trái đất yếu, tổ chức này chánh, người kia tà....

Với một tâm thức tràn đầy tình cảm yêu, ghét và lo sợ, những người phân cực tình cảm thường quan tâm quá mức một số thứ nhất định. Dành quá nhiều tình cảm cho một số đối tượng thì nhìn đâu cũng thấy đối tượng đó.

Yêu từ cái nhìn đầu tiên, thù khi chưa kịp gây tội. Người phân cực tình cảm vô cùng dễ thương, chừng nào họ chưa xếp ta vào loại ... đáng ghét. Nhờ có họ mới có điện ảnh Hàn Quốc và Hồng Kông và những mỗi tình đủ cung bậc ân oán.

Phân minh lý trí & phán xét tình cảm

Người phân cực tình cảm giàu sự phán xét tình cảm mà thiếu sự phân minh lý trí. Nhận thức không phân biệt giữa thực và ảo, chân ngã và bản ngã, quy luật và hiện tượng, trải nghiệm và bản chất, tâm tạo và hiện thực. Một hành động hay một lời nói không phù hợp với tiêu chí của cá nhân hoàn toàn không có nghĩa bản chất của chủ thể hành động hay lời nói đó là xấu xa, cùng không đảm bảo tiêu chí đó là đúng đắn. Nhưng với người phân cực tình cảm thì như vậy là quá đủ. Hiện tượng với bản chất là một, sự kiện và quy luật là một....Ngày mai, sự kiện và hiện tượng khác sẽ có bản chất và quy luật khác.

Không ai hiểu được tiêu chí để đánh giá xấu - tốt, đúng - sai, chánh - tà, ánh sáng - bóng tối,  mạnh.- yếu, hay - dở... là gì bao gồm chính người đeo kính. Cùng một người và một hành động với kính này là đúng mà với kính kia thì là sai. Cùng một kính mà với một đối tượng lúc thì tốt lúc lại thành xấu. Nhưng người phân cực cho rằng những gì trong tâm của họ sẽ là hiện thực của người khác, nên vũ trụ này cũng phân biệt xấu - tốt, đúng - sai, chánh - tà, ánh sáng - bóng tối, mạnh - yếu, hay - dở y như họ. Thượng đế hay Chúa, Phật không những phán xét y như họ mà còn đứng luôn về một phe với họ.

Sự phán xét tình cảm không cần phân biệt của lý trí, mặc dù bề ngoài có vẻ dựa trên sự phân biệt lý trí. Những người phân minh khái niệm sẽ ít khi phân cực tình cảm và ngược lại những người đã phân cực tình cảm thì chẳng mấy khi phân minh khái niệm.

Tư tưởng của người phân cực tình cảm thường tràn đầy cảm xúc và trách nhiệm. Tình cảm dẫn dắt hành động. Lý trí chạy theo tình cảm để biện luận, suy diễn và triển khai những gì tình cảm mong muốn, cũng như để xử lý hậu quả do phản ứng tình cảm gây ra.

Ảnh hưởng lớn nhất là một khái niệm phân cực vừa to tát lại vừa mù mờ kiểu như Ánh sáng và Bóng tối, bởi các khái niệm này cho phép những suy diễn mênh mang và khơi gợi những tình cảm ngập tràn. Bất kỳ người nào nhìn qua kính chánh - tà thì sớm muộn không thành chánh cũng hóa tà ngay.

Vượt qua phân cực tình cảm bằng lý trí ?

Phát hiện sự phi lý của người phân cực tình cảm không khó, nhưng xử lý các ảo giác tình cảm đòi hỏi sự tinh tế.

Khó có thể dùng suy luận logic mà phân tích cho người phân cực tình cảm hiểu được, vì họ nhận thức và hành động bằng tình cảm, không phải bằng lý trí. Làm như thế giống như là đứng sẵn trên cành cây mà lại muốn giữ cho thân cây khỏi lung lay.

  • Dùng lý trí tuyến tính phân tích đúng sai để biện luận thì cuối cùng tình cảm mạnh mẽ sẽ bóp méo hoàn toàn lý trí.
  • Dùng một lý trí phi tuyến không có đúng không có sai để biện luận thì người phân cực tình cảm sẽ không chấp nhận.

Người phân cực tình cảm dễ phản ứng mù quáng với các phân tích duy lý. Họ cho những người trụ tâm là vô tâm và việc tự nhận thức bản thân là chủ quan, còn những người điên đảo với hiện tượng là khách quan và việc liên tục phản ứng với ngoại cảnh là giàu cảm xúc.

Bảo người không phân cực tình cảm ngừng phán xét, thì người khuyên bảo sẽ bị phán xét ngay. Nhẹ thì, người khuyên bảo sẽ bị phân vào nhóm ngây thơ, ngu dốt và mù quáng ... Nặng thì, người khuyên bảo sẽ bị xếp từ phe chính nghĩa, tốt đẹp, cứu vớt vào phe bóng tối, xấu xa, hủy diệt....

Bảo người phân cực rằng họ đang sống trong ảo ảnh và cần dừng sự phán xét, không khác gì bảo người say là anh ấy cần đứng vững hoặc bảo người ở dưới nước là anh ấy cần khô ráo. Điều này không giúp ích gì cho họ, mà chỉ làm tình cảm trong lòng họ nổi sóng mạnh mẽ thêm.

 

Vượt qua phân cực tình cảm bằng tình cảm ?

Người thuộc cung tình cảm chỉ đi theo tình cảm.

Theo con đường trải nghiệm, người phân cực tình cảm sẽ được trải nghiệm sự phân cực trong cuộc sống y như nhận thức trong lòng họ, với đủ các cung bậc xúc cảm từ vui sướng đến đau thương. Trải nghiệm đa chiều sẽ giúp con người mở rộng nhận thức. Người phân cực với tiền bạc sẽ làm người giàu rồi lại làm người nghèo. Người phân cực với hôn nhân sẽ trải qua cả tình trạng độc thân và tình yêu đầy sở hữu. Thường cần nhiều cuộc đời để đóng nhiều vai như vậy.

Don Kihote đã rong ruổi trong sự nghiệp chống cái ác, cứu nhân loại đến ... hơi thở cuối cùng. Cuộc chiến với cối xay gió mà chàng hiệp sỹ tham gia là con đường trải nghiệm. Tự làm, tự cảm, tự nghĩ thì sẽ tự ngộ.

Điểm mạnh của một người cũng là điểm yếu của người đó. Người có đủ các loại tình cảm lo sợ, ham muốn, ghét bỏ cũng có sẵn nhiều tình cảm quý báu như tinh thần trách nhiệm, đức hy sinh, lòng biết ơn, sự chia sẻ. Những giá trị tâm hồn sẽ nâng cánh cho tư tưởng và  định hướng hành động của những người giầu tình cảm, đồng thời loại bỏ dần những tình cảm trược. Đó là con đường nâng sóng tình cảm.

Người phân cực tình cảm thường giàu tình yêu thương. Chấp nhận cặp kính đổi màu và khuyến khích người phân cực tình cảm mở rộng trái tim với tà ma, với cái ác, với bóng tối ...bằng tình yêu vô điều kiện, thay vì tham gia cuộc chiến chống tà hay cuộc đua ánh sáng, người ấy sớm hay muộn cũng sẽ mở rộng được nhận thức và trở lại được với sự hòa hợp nội tâm. Đó là con đường của tình yêu vô điều kiện.

Mọi con đường đều dẫn đến tình yêu

Mỗi con người sẽ bắt đầu đi trên con đường trải nghiệm đủ loại cảm xúc gắn với các trải nghiệm đối lập do chính sự phân cực trong tâm, sau đó đi trên cả hai con đường - con đường mở rộng trải nghiệm và con đường tình yêu, trước khi có thể thực sự đạt được sự hợp nhất với năng lượng tình yêu.

Một người nào còn quá lo bản thân thì tình yêu thương của họ không đủ mạnh để vượt qua phán xét. Khi đó bản ngã mạnh hơn tâm hồn, dù người ấy có tự nhận mình đứng đầu phe ánh sáng.

Một người chống cái ác vì họ muốn bản thân họ phải là cái thiện, vì cái ác mạnh mẽ, vì cái thiện yếu đuối... sẽ còn cần đi thêm trên con đường trải nghiệm. Họ chỉ nhìn thấy những ô vuông đen trắng của sự khác biệt. Người chống cái ác vì họ mong muốn tất cả những ai đang ác sẽ hóa thiện, vì ai cũng có mầm thiện, vì ai cũng mong cầu hạnh phúc sớm hay muộn sẽ đi trên con đường tình yêu. Họ đã thấy các đốm sáng của sự hòa hợp,

Cuối cùng, mọi con đường đều dẫn đến nhận thức hòa hợp, bởi vì bản ngã ai cũng muốn được hạnh phúc và tâm hồn ai cũng có sẵn hạnh phúc. Mọi sự hòa hợp bên trong đều sẽ thể hiện bằng sự hòa hợp bên ngoài - đó là tình yêu vô điều kiện giữa con người với nhau.

SP_READ_MORE

Đừng tin yêu. Chỉ yêu thôi là đủ.

Người Việt có từ tin yêu. Nghĩa yêu ai thì sẽ tin mà đã tin ai thì cũng sẽ yêu. Suy rộng ra, muốn yêu bất kỳ đối tượng nào thì cũng phải tin đối tượng đó. Mất niềm tin thì tình yêu đã có cũng mất đi. Yêu có điều kiện, chính là tin yêu, với điều kiện của tình yêu là niềm tin.

  • Trong tình yêu vô điều kiện với một con người, nhu cầu tin người đó theo một tiêu chí nào đó mất đi. Tin một ai thực ra là muốn rằng người ấy đáp ứng một điều kiện nào đó như chung thủy, vị tha, cao thượng, cũng yêu mình...nghĩa là chỉ yêu với điều kiện rằng người đó đã/sẽ/hãy/nên/phải là như thế này hay thế khác.
  • Trong tình yêu vô điều kiện với một đối tượng, mong cầu một niêm tin đối tượng đó thoả mãn một tiêu chí nào đó mất đi. Yêu nó như nó đang là.
  • Trong tình yêu vô điều kiện với một hiện thực có tình yêu vô điều kiện với mọi trải nghiệm và với chính mình. Sự cần thiết phải có niềm tin với bản thân và niềm tin vào trải nghiệm của bản thân là một ảo ảnh ngăn cách ta với tình yêu có sẵn trong sư sống của ta và mọi sự sống trong vũ trụ này.

Đừng tin yêu. Chỉ yêu thôi là đủ.

 

Không cần hiểu để yêu mà cần yêu để hiểu

Có thể phải nghe thấy và nhìn thấy rất nhiều để mà hiểu. Có thể phải suy ngẫm rất nhiều và rất lâu để hiểu. Nhưng chẳng cần hiểu để mà yêu thương.

Nghe con trẻ nói dối bị ốm để không phải đi học, người cha không tin, đánh nó và bắt nó đi học. Bà mẹ cũng nhận ra con mình nói dối như ông bố. Nhưng từ trái tim mình, bà cảm nhận đứa trẻ đang bất an. Bà đã khuyến khích con kể về các bạn cùng lớp. Cuối cùng, bà hiểu rằng đứa trẻ đang gặp rắc rối ở trường và bà tìm cách giúp đỡ con.

Tâm hồn của chúng ta là đứa trẻ. Trực giác là lời thì thầm của nó. Chỉ có thể lắng nghe lời thì thầm của đứa trẻ với trái tim người mẹ. Người cha dựa vào những điều mất thấy tai nghe để đánh giá và đặt niềm tin vào đứa con mình. Người cha không còn tin yêu con khi nó nói dối. Với tình yêu vô điều kiện, người mẹ không cần hiểu mới nghe và thấy mới tin. Người mẹ vì yêu nên lắng nghe và vì lắng nghe mà hiểu.

Không cần hiểu để mà yêu. Mà cần yêu để hiểu

  • Chẳng có gì bất thường trong việc một đối tượng chưa được thấu hiểu. Nhưng sẽ rất bất thường khi một đối tượng không được yêu thương.
  • Chẳng có gì bất thường trong việc một trải nghiệm chưa được thấu hiểu. Nhưng sẽ rất bất thường khi một trải nghiệm không được yêu thương.
  • Chẳng có gì bất thường trong việc chính mình chưa được thấu hiểu. Nhưng sẽ rất bất thường khi chính mình không được yêu thương.
  • Chẳng có gì bất thường trong việc sự sống chưa được thấu hiểu. Nhưng sẽ rất bất thường khi sự sống không được yêu thương.

Bởi vì tình yêu thương là năng lượng cơ bản kết nối vạn vật trong vũ trụ. Không có yêu thương thì chẳng có đối tượng nào để hiểu, mà cũng chẳng còn sự sống của chính ta.

Yêu thương trong hiện tại

Chị muốn biết sứ mệnh cuộc đời và con đường giải thoát theo Phật pháp. Trực giác nói với tôi rằng chị đang gặp vướng mắc trong nhận thức về chính mình và cuộc đời ngay trong hiện tại. Chị sẽ rất khó kết nối cái tôi cao hơn hoặc không cần thực hiện du hành tâm thức. Nghĩ là chị nên đi học trước, cho nên tôi từ chối. Nhưng chị nhất định chỉ muốn làm một cuộc du hành, thế là tôi đành hẹn chị muộn hơn, ít ra để tâm trạng của chị chùng lại và buông bỏ bớt.

Chị ở trong mối quan hê đối kháng với người thân. Mâu thuẫn giữa họ chồng chất từ phút giây này sang tháng năm khác. Hết cuộc khẩu chiến nảy lửa này đến cuộc chiến tranh lạnh khác. Giữa họ thiếu tình yêu thương.

Khi chị được dẫn dắt để nhớ lại các cảnh tượng này, tôi bảo chị hãy gửi tình yêu thương cho người thân khi quay trở lại những khung cảnh mâu thuẫn của quá khứ, chị làm được khi được cái tôi cao hơn hỗ trợ. Nhưng tôi biết điều đó là chưa đủ bởi vì chúng tôi sẽ không đủ sức đi hết từ cuộc chiến này đến cuộc chiến khác, để hàn gắn lại hết những vết thương lòng do chúng gây ra.

Nếu tôi bảo chị hãy yêu thương người thân vô điều kiện, tôi nghĩ chị sẽ không đồng ý hoặc đồng ý mà không làm được vì chị là người duy lý. Hơn nữa vết thương do chị và người thân gây cho nhau nhiều quá, chị sẽ thấy không thể nào mà bỏ qua được, nghĩ đến họ, chị chỉ thấy ghét và hận mà thôi.

Thấy rõ rằng chị và người thân có bài học cuộc đời với nhau, tôi xin chị được biết nghiệp quả của mình nhưng chị không về được bất kỳ tiền kiếp nào. Chị cứ đứng mãi trong các vướng mắc hiện tại, rồi chuyển sang một khung cảnh thơ mộng nơi tâm trí chị chạy trốn cuộc sống đời thường. Cho nên mặc dù đã giữa buổi làm việc, tôi vẫn xin Quán thế âm, vị Chân sư nằm trong hội đồng nghiệp quả của Trái đất trợ giúp.

Tôi bảo chị hãy xin Quán thế âm cho chị biết nghiệp quả của mình. Tôi nghe thấy Quán thế âm nói rằng chị cần yêu thương. Vì chị không nghe thấy gì cả, nên tôi khuyên chị hãy xin ngài giúp đỡ một lần nữa. Chị thấy ngài cho chị tắm trong một dòng năng lượng. Tôi hiểu rằng dòng nước này là sự tha thứ và buông bỏ.

Khi tôi xin đưa chị đi xem lại nghiệp quả, chị bay luẩn quẩn rồi lại quay về đứng trước Quán thế âm. Ngài nói "Không cần đi về quá khứ, chẳng cần đi tới tương lai, chỉ cần yêu thương trong hiện tại". Cuối cùng thì trực giác ban đầu của tôi vẫn đúng.

Chị và người thân đã có nghiệp quả với nhau nhiều đời. Đời này người này làm đau người kia. Đời kia, người kia làm đau người này đau. Nó chả khác gì những cuộc chiến hiện tại. Chúng chẳng có khởi đầu, cũng chẳng có kết thúc. Chúng chẳng có nguyên nhân đồng thời có vô số nguyên nhân. Cho nên, chị chỉ cần đừng chiến đấu, đừng phản ứng nữa, đừng phân tích nữa, đừng oán hận nữa là đủ. Hãy thay ghét bỏ bằng tha thứ và yêu thương.

Chị quyết đi theo Phật pháp để được giải thoát và trở thành Phật dù phải trải qua đời đời, kiếp kiếp. Đây là một hạnh nguyện cao quý.

Thày tâm linh của chị cũng là người khổ nhiều, cụ thể là thất bại đi, thất bại lại trong tình trường và thương trường. Việc lặp đi lặp lại một trải nghiệm tiêu cực luôn xuất phát từ một nhận thức không đúng đắn. Vì vô minh là nhân của quả khổ đau, nên khi tự ngộ và thoát khỏi mô thức phản ứng tiêu cực đằng sau các trải nghiệm lặp lại, người thày này đã muốn giúp đỡ người khác tìm ra được căn nguyên nỗi khổ và thoát khổ.

Đức Thích Ca dạy rằng "đời là bể khổ" nên chị đang tập khổ, chị đang nhớ lại những cảnh khổ. Chị hiểu ngược hoàn toàn câu nói của đức Phật.

Thay vì sống hạnh phúc, chị biến đau khổ thành chân lý cuộc đời. Thay vì giải thoát, chị giam hãm bản thân.  Làm sao có thể thoát khỏi thế gian khi còn vật vã trong các trải nghiệm đời thường ? Làm sao nhấc chân để bước lên bậc cầu cao hơn khi còn dẫm chân bình bịch tại bậc thang hiện tại ?

Khi tôi xin lời khuyên cuối cùng cho chị khi kết thúc buổi hàn gắn năng lượng theo dòng thời gian. Chị nhận được hai chữ "bình an".

Bạn có thắc mắc vì sao Phật dạy đời là bể khổ, rồi lại khuyên hãy bình an ? Bạn có thắc mắc vì sao Phật chỉ con đường giải thoát, rồi lại dạy buông bỏ và vô thường ? Bạn có thắc mắc vì sao Phật nói vạn sự tại tâm rồi lại giảng minh triết và luân hồi ? Làm sao mà chúng ta có thể bình an trong bể khổ ? Làm sao chúng ta có thể buông bỏ cuộc đời để thoát về xứ Phật ? Làm sao chúng ta phải học từ trường đời khi vạn sự có sẵn nơi tâm ?

Tôi khuyên chị tự hỏi Quán thế âm "Phật pháp là gì ?" và "Chánh pháp là gì ?". Câu trả lời chị nhận được là Phật pháp là con đường giải thoát cho nhiều người, còn chánh pháp là tư duy đúng. Trước khi tự giải thoát khỏi vòng luân hồi, mỗi người cần và hoàn toàn có thể tự cứu mình khỏi đau khổ đời thường.

Bản chất của đạo làm người, đạo Phật và con đường của nhiều tôn giáo là tự thấu hiểu, tự làm chủ và tự hoàn thiện bản thân, dựa trên sự thấu hiểu đạo vũ trụ. Nếu thực lòng hiểu Phật pháp, chúng ta nên bỏ dằn vặt và thù oán. Thay vì kiếm tìm chánh pháp, so sánh kinh sách, chân sư và đạo giáo, hoặc bóp méo các pháp môn theo quan kiến cá kiến, nên tự nghiềm ngẫm và điều chỉnh về ứng xử, tình cảm và khuôn mẫu tư duy của cá nhân mình.

Chúng ta cứ mê mải tìm Phật pháp nơi các vị thầy với chức danh cao cả nào đó, ở nơi chốn linh thiêng nào đó. Chúng ta cứ lo lắng đi tìm mục đích cuộc tinh khiết, vời vợi bên ngoài xã hội. Chúng ta chạy trốn những vấn đề hiện tại trong gia đình mình. Chúng ta đóng cửa trái tim mình.

Chị cần học minh triết, thay vì lặp lại các kiểu trải nghiệm tiêu cực hoặc tìm kiếm nguyên nhân cụ thể của chúng. Chị cần suy ngẫn về nội tâm của chính mình, thay vì phản ứng liên tục với ngoại cảnh. Chị cần dừng lại, thay vì chìm đắm từ trải nghiệm đau khổ này đến trải nghiệm đau khổ khác.

Chị nên thư giãn, trong dòng nước tha thứ, buông bỏ và yêu thương dành cho mình và yêu người khác. Người thày đích thực và cũng là người thày đầu tiên là trái tim của chị, là Phật tâm của chị, nơi chỉ có yêu thương.

Đừng đợi có chánh Pháp mới yêu. Đừng đợi về xứ Phật mới thương. Xứ Phật ở đây. Chánh Pháp là hiện tại. Phật Tâm nằm ngay trong trái tim mình. Sự giải thoát là tình yêu.

Chúng ta cho rằng nghiệp quả nặng nề nhấn chìm chúng ta trong bể khổ, còn Phật pháp là ngọn hải đăng xa tít, mà những lúc vẫy vùng ngoi được lên mặt nước, chúng ta chợt thấy. Càng vẫy vùng, chúng ta càng chìm, càng chìm, chúng ta càng hoảng loạn vẫy vùng. Cứ như thế, chúng ta ngụp lặn vất vả trong vòng luân hồi. Trần gian là bể nước mà bằng sự vẫy vùng, chúng ta tạo nên sự khổ của chính mình và nhân loại.

Hãy yêu những người thân, hãy yêu những người lạ, hãy yêu vạn vật, hãy yêu cuộc đời!  Hãy thư giãn và chúng ta sẽ tự nổi lên mặt nước. Chúng ta sẽ thấy không hề có ngọn hải đăng mà chỉ có cả một bầu trời sáng chói chang. Bầu trời chói chang vẫn luôn ở đó, nhưng mà chúng ta chỉ có thể thấy bầu trời khi thư giãn trong bề nước trần gian.

Đó là ngộ, là giải thoát.

Làm thế nào để nhận được sự giúp đỡ ?

  • Làm thế nào để khỏi bách bệnh? Tìm bệnh nhân nặng hơn mà giúp.
  • Làm thế nào để giảm stress ? Tìm người hóa điên vì stress mà giúp.
  • Làm thế nào để có thêm thời gian ? Tìm người bận hơn mà giúp. 
  • Làm thế nào để tránh thất tình ? Tìm người đang đau khổ vì thất tình mà giúp.
  • Làm thế nào để làm cuộc sống thêm ý nghĩa ? Tìm người buông ý nghĩa của cuộc sống cá nhân mà giúp.

 

  • Làm thể nào để đổi đời mình? Giúp đời
  • Làm thế nào để thay đổi mình ? Giúp người
  • Làm thế nào giúp người và giúp đời ? Tìm được chuyên gia, thần dược, kỹ thuật, thời gian ? Giúp cái người khác đang cần, đời đang cần. Không giúp cái mình đang muốn.

 

  • Làm thế nào để được giúp bởi gia đình, bạn bè, mọi người ? Lập gia đình, nhờ bạn bè, hỏi mọi người ? Tìm người cần giúp mà giúp. Buông bản thân mà giúp
  • Làm thế nào để được giúp bởi Phật, Chúa và đất trời ? Đến chùa và nhà thờ để xin Phật và Chúa giúp mình ? Xin được giúp Phật và Chúa. 

Yêu là mất

Trong chuyến bay từ TP HCM về Hà Nội, mình được ngồi cạnh một bạn trẻ, người làm một công việc bình thường để kiếm sống đồng thời ôm thêm rất nhiều việc bất thường khác.

Lĩnh vực bạn quan tâm là giáo dục trẻ em có hoàn cảnh khó khăn.

  • Dự án thứ nhất của bạn là giáo dục kiến thức cơ bản và kỹ năng sống cho con cái các gia đình vạn chài sống tha phương trên các kênh rạch tại Sài Gòn và các tỉnh lân cận của đồng bằng sông Cửu Long.
  • Dự án thứ hai của bạn là giáo dục cho các trẻ em con của các cặp vợ chồng ngoại tỉnh làm thuê không có chỗ ở và thu nhập ổn định tại thành phố HCM.
  • Dự án thứ ba là giúp đỡ trẻ em sinh ra và lớn lên trong khu bãi rác của thành phố Sài Gòn tại Long An. 
  • Dự án đang ấp ủ của bạn là giáo dục về văn hóa Việt và hòa nhập công đồng cho con của các cặp vợ chồng Hàn - Việt.

Bạn không góp tiền cho người khác làm hộ hay làm đi làm từ thiện theo các đợt trao quà nên rất có thực tế về đời sống và tâm lý của trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Bạn không thiền và nghiên cứu kinh sách (làm gì còn thời gian) nhưng có thể gọi là thầy của nhiều người suốt ngày đi ra đi vào thiền viện và thư viện. Theo bạn, yêu là hy sinh. Suốt 2h bay, mình vẫn chưa hiểu hết được công việc của bạn, nhưng cảm nhận được hai chữ hy sinh và phụng sự, nằm trong chữ tình yêu.

Ta thường cho rằng yêu là nhìn về cùng một hướng, là đồng cảm cộng khổ, là chia sẻ sở thích, là cùng một nhận thức ...Cho nên, khi hai người không chia sẻ mối quan tâm, hoàn cảnh sống, không cùng trình độ, ta thấy mình đang hy sinh. Ví dụ thế này

  • Khi ta mở mắt nhìn chân lý mà người yêu ta ngoảnh mặt đi, ta sẽ hết yêu, rồi nỗ lực cải tạo người yêu.
  • Khi ta thích nghiền ngẫm các khái niệm vi diệu mà người yêu thích những thứ "tầm thường", ta sẽ hết thương, rồi kiêu hãnh gọi coi người yêu là thử thách của đường tu.
  • Lúc ta khổ sở mà người yêu sung sướng và lúc ta hoan hỉ mà người yêu lại âu sầu, nhẹ thì ta bảo người yêu là tham sân si, nặng thì ta can thiệp để khôi phục sự hòa hợp giữa hai người.

Chúng ta định nghĩa phụng sự là làm một cái gì đấy hoành tráng hoặc bi tráng, thế nên ta

  • ta mê mải tìm kiếm hết mục tiêu đến phương tiện, hết cá nhân kiệt xuất đến tổ chức vĩ đại vì lý trí của ta sợ phụng sự phải cái sai lầm, hoặc
  • ta tập trung sự chú ý đến các đối tượng thu thiệt, kém cỏi, yếu đuối để yêu thương, vì tình cảm của ta muốn thấy chính mình là người cao cả, hoặca
  • ta ám ảnh với việc hoàn thiện nhận thức, đạo đức, kỹ năng mà không dám băng ra giúp người đời, bởi vì ta ngại hy sinh con đường hoàn thiện của mình vì hiện trạng bất toàn của xã hội

Cuối cùng, ta luôn trì hoãn việc dành nhiều tình yêu hơn cho người thân và dành thêm nguồn lực cho những người xa lạ.

Nếu theo những trải nghiệm của bạn, yêu là mất,

  • Mất như thế nào ? mất luôn, mất hẳn, mất nhiều.
  • Mất cái gì ? mất tiền bạc, mất thời gian, mất công sức, mất các mối quan hệ xã hội và gia đình, mất công việc cá nhân, mất sĩ diện, mất danh dự, mất tự ái, mất kiêu hãnh, mất quan điểm riêng, mất chính kiến ...

Ngẫm nghĩ mãi về câu chuyện của bạn, mình thấy rằng đây là quan niệm về tình yêu dung dị mà chính xác nhất. Hành động kiểu "yêu là mất" của bạn chính xác hơn nhiều cái kiểu "yêu là chia sẻ" của số đông.

Từ vị kỷ đến vị nhân

Các cấp độ tiến hóa

Theo động lực cuộc sống đặt trong trong mối quan hệ của mỗi cá nhân với chính mình, người khác và tổng thể, sẽ có các cấp độ sau đây

  • Hại người, để hơn người bị hại
  • Hại người, để thu lợi cho bản thân
  • Không hại người, nhưng phải có lợi ích cá nhân
  • Lợi mình trước, lợi người sau
  • Mình và người cùng có lợi
  • Lợi người trước, lợi mình sau
  • Lợi chung, lợi người, lợi mình
  • Lợi tiến hóa của nhân loại và Trái đất, bỏ qua bản thân

Hại người mà chẳng thu được lợi ích gì cho bản thân không phải là một hành vi của một vài người cực kỳ ngu xuẩn. Thời tiền sử khi con người chủ yếu có những nhu cầu vật chất, chỉ mong cầu ăn no, mặc ấm, ở yên, hành vi này chưa phổ biến như thời nay. Mấy ai trong đời chưa từng tiêu tốn năng lượng, thời gian, tiền bạc … để chê bai những người xa lạ chỉ vì hành động này ngay giây phút ấy cho bản ngã một ảo giác quan trọng hơn, cao quý hơn, uyên bác hơn người khác.

Không chỉ các tên cướp của giết người mới thuộc nhóm hại người để thu lợi cho bản thân. Nhà kinh doanh phá hoại việc kinh doanh đối thủ cạnh tranh, nhà sản xuất và nhà buôn lừa dối người tiêu dùng … cũng hại người để thu lợi vật chất. Đồng nghiệp hại nhau vì chức danh. Người ngoại tình lừa dối bạn đời để thu lợi tình cảm.

Người luôn vun vén cho người thân, ủng hộ người quen và dửng dưng với những người không phải là “của mình” thuộc cấp độ "không hại người nhưng phải có lợi ích cá nhân". Một số người thích giúp đỡ người khác, nhưng lại sẵn sàng hại môi trường vì môi trường là "ngoài mình".

Một số người cố gắng làm một việc có lợi cho mình và cả cho người khác thuộc cấp độ "lợi cả mình và người". Họ thấy rằng thật khó triển khai bất kỳ công việc quan trọng hay gìn giữ những mối quan hệ nào mà chỉ có lợi cho một bên. Đối với họ, động lực sâu xa vẫn là lợi ích cá nhân, dù tùy hoàn cảnh mà lợi mình hơn hay lợi người hơn, lợi mình trước hay lợi người khác.

Người nuôi sống bản thân bằng những công việc có ích cho xã hội và người theo đuổi những việc có ích cho xã hội mà thông qua đó họ đạt được hạnh phúc đã đạt cấp độ lợi chung, lợi người và lợi mình.

Các học trò của các Chân sư quên đi lợi ích bản thân mà thế gian vẫn coi trọng để thúc đẩy tiến hóa của nhân loại và Trái đất đang tham gia vào rất nhiều công việc phụng sự thầm lặng trên toàn thế giới.

Các nguyên lý tiến hóa

Các cấp độ trên là các biểu hiện của các nguyên lý tiến hóa từ thấp lên cao

  • Vì mình – service to self
  • Vì ngoài mình, bao gồm vì người – service to others
  • Vì sự sống và tiến hóa của hành tinh – service to evolutution plan of the hierachy
  • Vì ánh sáng & tình yêu (for Light & Love) trong vũ trụ
  • Vì ý chí của Thượng đế (for the Will of God)
  • Đồng sáng tạo, là một với Thượng đế (oneness with God).

Mô hình phát triển này được lặp lại ở mỗi cuộc đời. Đứa trẻ khám phá bản thân và cố gắng phục vụ bản thân, lớn lên gần gũi người thân và chia sẻ với người thân, trưởng thành hòa nhập xã hội và giúp đỡ cộng đồng, người thức tỉnh tâm linh học sư sống và phụng sự nhân loại cùng Trái đất.

Nguyên tắc sống và mức độ nhận thức nhận thức

Nguyên lý tiến hóa phản ánh các mức độ nhận thức và tiến hóa của con người. Nguyên lý "vì mình" tương ứng với tư tưởng phân cực - tách mình khỏi tổng thể và coi mình là quan trọng nhất. Nguyên lý "vì sự sống" tạo ra ứng xử hòa hợp. Tư tưởng vì "ngoài mình" hay vì "người khác" nghĩa là khác mình những vẫn là người hoặc có điểm chung nào đó là một bước nhận thức chuyển tiếp.

Tất cả con người đều học nguyên lý vì sự sống trong các hình thể khác trong các mối quan hệ với tự nhiên, từ cỏ cây, động vật, Trái đất đến vũ trụ. Khi có nhận thức siêu hình, con người chuyển sang nguyên lý vì sự sống khác, dù sự sống đó không có hình dạng giống như họ. Khi có nhận thức tâm linh vô hình tướng, con người chuyển sang nguyên lý vì Sự sống, vì Tình yêu, vì Thượng đế.

Mỗi cấp độ nhận thức là một dạng bài học cuộc đời. Linh hồn sẽ lựa chọn cụ thể hóa bài học này bằng một loạt dạng trải nghiệm nào đó, tùy theo cung của chân ngã, cung của bản ngã, điều kiện cụ thể của mỗi lần đầu thai và tự do ý chí của linh hồn đó.

Các nguyên lý và cấp độ này là động lực căn bản xuyên suốt một cuộc đời và nhiều lần đầu thai của một con người. Động lực của một vài hành động đơn lẻ và bề ngoài của hành động không nói lên mức độ phát triển tâm thức của con người. Người chăm chút cho con cái và dành nguồn lực còn lại làm công quả cho nhà chùa để mong bình an cho gia đình đang sống với nguyên lý tiến hóa vị kỷ.

Trên Trái đất hiện nay có đủ các cấp độ tâm thức từ vì bản thân đến đồng sáng tạo với Thượng đế. Tiêu chí hữu hình như mức độ giàu có, chức danh, các mối quan hệ dùng để đánh giá thành công trong nhiều trường hợp không thể hiện mức độ tiến hóa của một con người. Trong một công ty cạnh tranh khốc liệt, các nhà lãnh đạo hàng đầu có thể đang thuộc nguyên lý tiến hóa “vì mình”, một số suy thoái ở cấp độ “vì mình hại người” trong khi một nhân viên tầm trung có thể đang học hỏi để chuyển sang nguyên lý vì người. Các nhà lãnh đạo có thể là các linh hồn trẻ hơn nhân viên của chính họ. Công ty cho các nhà lãnh đạo một môi trường phù hợp để khẳng định cái tôi. Cùng lúc đó, công ty chỉ là nơi kiếm tiền đối với nhân viên.

Chuyển đổi giữa các nguyên lý

Một bài học cần được hoàn thiện qua rất nhiều lần đầu thai. Một người đang ở cấp độ chính “Lợi mình trước, lợi người sau”, vẫn có thể vài trải nghiệm hại người, thing thoảng không giúp người nếu mình không có lợi, bên cạnh vài lần tự nguyện hy sinh bản thân vì người khác. Linh hồn cần nhiều cuộc đời để chuyển từ nguyên lý vì bản thân sang nguyên lý vì người khác, đến vì nhân loại, đến vì sự sống trong tất cả hình thể.

  • Một số linh hồn gieo mầm vị tha nhân, vị sự sống qua rất nhiều trải nghiệm khác nhau, trong nhiều cuộc đời, cho đến lúc tâm hồn càng ngày càng làm chủ bản ngã.
  • Một số linh hồn thực hiện việc chuyển đổi này rất quyết liệt trong một số cuộc đời trong các trải nghiệm buông bỏ và hy sinh mạnh mẽ, để tạo động lực mới cho các cuộc đời sau.
  • Nhờ tham gia vào một cuộc cách mạng tư tưởng, chiến tranh vệ quốc hoặc các phong trào đấu tranh giai cấp, mà lần đầu tiên sau rất nhiều cuộc đời một linh hồn có nhận thức và hy sinh đối với đồng loại ở cấp độ vượt ra ngoài mối quan hệ hẹp với một nhóm người thân quen. Các cuộc cách mạng đó có thể thất bại hoặc được lãnh đạo bởi một kẻ độc tài dối trá, mà người tham gia vẫn có thể đạt được sự trưởng thành tâm linh vượt bậc

Mỗi người đều cần học "bài vì mình", trước khi sang bài" vì người khác". Không phải linh hồn nào cũng mất nhiều đời chìm nổi trong các kinh nghiệm ích kỷ vì mình hại người, mà có thể đi thẳng sang nguyên lý vì mình, không hại người thậm chí vì mình vì người, để đạt được mức độ tiến hóa nhanh hơn. Về nguyên tắc, chỉ có thể chuyển sang nguyên lý vì người khi đã tự chủ về mặt tư tưởng, nghĩa là hoàn thành bài học vì mình.

Chuyển đổi nguyên lý để bước sang thời đại mới

Nguyên lý vì mình giúp phát triển cái tôi. Phát triển cái tôi là sự cần thiết trong thời gian đầu cá thể hóa. Biến thái của nó là đi từ phát triển cái tôi thành nguyên lý cái tôi là trung tâm vũ trụ. Đó là giai đoạn bản ngã làm chủ. Con người đa chiều phân cực mạnh mẽ trong thể tình cảm và lý trí thấp, và tách rời khỏi tâm hồn. Sự phân cực này của một bản ngã hoàn toàn mất kết nối với chiều tâm thức cao và hòa hợp đẩy nhân loại vào một cuộc khủng hoảng tâm linh.

Ngay từ buổi bình minh của loài người, nguyên lý vì người khác đã được lồng ghép trong các mối quan hệ tình yêu từ gia đình đến xã hội, vì con người là động vật bầy đàn. Hiện nay, thực hiện nguyên lý vì người trở nên sống còn với tiến hóa từng cá nhân cũng như toàn nhân loại.

Để cùng Trái đất thăng lên, mỗi cá nhân phải thực hiện sự lựa chọn quan trọng là đi theo nguyên lý vì người, vì nhân loại, vì Trái đất và vì sự sống. Đây là bài học chung mà các linh hồn dù đang ở cấp độ nào đều được khuyến khích thực hiện. Nhóm linh hồn hỗ trợ cho việc thăng lên trong các vai trò như giáo viên, nhà chữa trị hàn gắn, nhà khoa học, truyền thông, nông nghiệp…đều sống với nguyên lý này.

Không có bất kỳ cá nhân nào có thể thăng lên nếu họ vẫn ở các cấp độ thấp dù họ có thiền định 10h một ngày, ăn chay, sống trên núi cao một mình. Bởi vì nguyên lý vì mình là bản ngã làm chủ con người, gây mất kết nối với cái tôi cao, cũng như tập thể các siêu linh hồn đang hỗ trợ cho quá trình thăng lên của Trái đất.

Hành thiền vô điều kiện. Trải nghiệm thiền tự nhiên

Từ nhà riêng đến khóa thiền, thiền viện và làng thiền

Đó là vào 07/2014, tôi đang hành thiền tại thiền viện Shwe Oo Min, ở ngoại ô thủ đô Rangoon. Chỉ còn khoảng vài tuần nữa trước trước khi kết thúc chuyến đi đã kéo dài hơn hai tháng tại Miến Điện thì xảy ra một trải nghiệm lạ lùng. Trong một buổi thiền, một vị sư áo đỏ hiện ra và nhắn tôi gặp thiền sư Ashin Tejaniya để chia sẻ với ngài một điều. Thiền sư Ashin Tejaniya dạy rằng vạn vật là đối tượng, còn nhà sư áo đỏ dạy tôi rằng hãy để mọi đối tượng mất đi. Rõ ràng đây không phải giấc mơ, vì năng lương của vị sư áo đỏ quá mạnh, làm tôi hạnh phúc cả ngày hôm đó, mặc dù tôi không biết ngài, cũng không hiểu thông điệp của ngài.

Nghe chuyện này, cô học trò đã rủ tôi qua thiền viện Shwe Oo Min đưa ngay cho tôi một cuốn sách của một thiền sư Miến Điện, ngài Ottamasara. Cô bé, đã đi nhiều thiền viện Phật giáo nguyên thủy nói với tôi rằng cuốn sách đến với mình như một cái duyên dưới một sự dẫn dắt. 

Tư tưởng của Ottamasara rất căn bản, trùng hợp với những điều tôi đã trải qua, đã nghiền ngẫm, đã viết, đang giảng dạy và đang tư vấn. Là người đọc và viết khá nhiều, ấn tượng của tôi về cuốn sách thực bình thường (sau này đọc nguyên bản tiếng Anh những bài chép các buổi nói chuyện của thày bởi những người ở bên Ottamasara nhiều năm, tôi thấy rằng chúng chứa một sự thấu hiểu sâu sắc hơn hẳn cuốn sách dịch tiếng Việt tôi được đọc ngày ấy). Thậm chí tôi cho rằng không phải ai cũng hiểu cách viết của Ottamasara, nếu họ thiếu trải nghiệm hoặc cần một cách diễn giải khác.

Cũng cô học trò này đã giúp tôi đến với khóa Vipassana đầu tiên với thày Goenka vào tháng 09/2013. Tôi đã có những trải nghiệm vô cùng sâu sắc trong khóa thiền này. Trước đó một vài năm tôi chỉ tự thực hành thiền tại nhà riêng. Chỉ sau khóa thiền này một vài tuần, tôi đã nộp đơn thôi việc để chuyên tâm vào giảng dạy tâm linh.

Tháng 08/2014 như một lời mời, ai đó lại đặt một bản giới thiệu về ngôi làng Thabarwa của thiền sư Ottamasara ngay trước cửa phòng tôi. Chính cô học trò này đã nhìn thấy, nhặt lên và chuyển nó lại cho tôi. Tôi đọc nhưng lý trí vẫn tiếp tục cưỡng lại việc đi đến ngôi làng.

Tôi đã tham gia các khóa tu thiền của Phật giáo nguyên thủy theo dẫn dắt của tâm thức thiền trong các buổi hành thiền một mình hoặc tập thể. Trong những giờ thiền cuối cùng tại Shwe Oo Min, thông điệp tâm thức về việc cần gặp Ottamasara trở nên rất rõ nét. Tôi thực lòng vẫn muốn đến các thiện viện nơi dạy những kỹ thuật chưa biết hoặc khác biệt. Tôi vốn là người thích trải nghiệm phong phú, có thể dẫn đến sự thay đổi trong nhận thức. Tôi không hề biết rằng “đổi thay” chính là điểm chốt trong phương pháp của Ottamasara mà chỉ khi nào đã ở trong luồng chảy đó, không phải khi nghe giảng pháp hay đọc sách, tôi mới ngộ.

Thabarwa

Ngay khi, tôi quyết định đi Thabarwa, ngài quản lý của Shwe Oo Min đã nhờ người bên đó đón tôi và sắp xếp chỗ ăn ở, một thiền sinh cùng trường cho tôi tiền, hai người Myanmar thuê xe và dẫn tôi đến đó. Thế là tôi có mặt ở ngôi làng Thabarwa vào một ngày đầu tháng 08/2014.

Đó là một ngôi làng với khoảng 26 nghìn cư dân và hơn một trăm tình nguyện viên. Người nghèo, người già, người bị bệnh nan y, người ngoài lề xã hội đến đó để được cung cấp nơi định cư. Dân làng đều nghe giảng pháp qua hệ thống loa đài hoặc tại phòng thiền chung của ngôi làng, nơi Ottamasara thiền và giảng pháp hàng ngày. Phần lớn người dân hành thiền tại nhà riêng hoặc khu ở của mình vì chỗ đó xa phòng thiền trung tâm, hoặc vì họ vẫn phải lao động kiếm sống cả ngày hoặc là họ quá yếu mệt.

Ở Thabarwa, có khoảng một trăm người quan tâm đến mô hình cộng đồng tâm linh và thiện nguyện đến đó ở thường xuyên để giúp đỡ thiện nguyện.

Việc đầu tiên của tôi khi đến Thabarwa là lấy hết tiền trong ví ra để cúng dường. Tôi chẳng còn một xu dính túi trước khi đi đến nơi này, số tiền tôi có là do một thiền sinh khác cho tôi vô điều kiện, nên tôi lại cho đi vô điều kiện. Tôi biết mình sẽ được cung cấp nơi ở, thức ăn, thậm chí được đưa ra sân bay miễn phí. Tất cả những gì tôi hay bất kỳ người khách xa lạ nào được hưởng miễn phí ở đây đều là nhờ tiền cúng dường và lao động tình nguyện.

Ở Myanmar có rất nhiều thiền viện và hành thiền rất được coi trọng. Theo truyền thống Phật giáo ở quốc gia này, thiền sinh được ăn ở miễn phí tại thiền viện, nơi họ sẽ hành thiền nhiều ca thường từ 4h sáng đến 8, 9h tối, trong nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm. Thiền sinh chỉ thiền, thiền và thiền mà thôi. Việc chuẩn bị đồ ăn, những điều kiện sinh hoạt căn bản đều do tinh nguyện viên thực hiện dựa trên đóng góp thiện nguyện.

Tuy nhiên, người hành thiền chủ yếu là người đã xuất gia hoặc cư sỹ không có nhiều vướng bận gia đình và mưu sinh. Người nghèo, người bệnh và người ngoài lề xã hội không được hưởng lợi ích của tu tập thông qua nghe pháp và hành thiền bởi vì họ phải đầu tắt mặt tối với miếng cơm, manh áo, con cái và bệnh tật.

Thabarwa khác xa với những trung tâm thiền của Myanamar và khắp nơi trên thế giới. Ottamasara đi xa hơn rất nhiều so với phần lớn thiền sư Miến Điện khi sẵn sàng cung cấp nơi ăn, chốn ở và một môi trường hành thiền vô điều kiện bất kỳ ai đến với ông để hỏi xin sự giúp đỡ, chứ không phải xin thiền.

Ngài Ottamasara

Cách đây nhiều năm, Ottamasara khi đó là một ông chủ đã được thức tỉnh tâm linh sau khi tham gia một số khóa thiền. Nhận thức được vấn đề của các thiền viện và của xã hội Myanamar, Ottamasara đã chủ động tìm đến từng nhà dân bình thường và gặp gỡ những người ngoài lề xã hội để hướng dẫn thiền và giảng pháp. Từ bỏ toàn bộ hoạt động kinh doanh và cuộc sống đời thường, ông dành hết tiền và thời gian cá nhân để đi chỗ này đến chỗ khác giúp đỡ những đối tượng không có chỗ trong các thiền viện ở một đất nước tràn ngập thiền viện miễn phí.

Ông đưa ra nguyên lý giúp đỡ và hành thiện không ngừng, không chấp vào bất kỳ thời gian, nơi chốn, phương pháp, đối tượng nào và ông đi đầu trong việc thực hành nguyên lý đó.

Càng ngày càng có nhiều người muốn bỏ chỗ ở, bỏ công việc, bỏ tài sản, đi theo ông để được nghe giảng pháp và thiền, hoặc giúp đỡ ông nhưng ông không có địa điểm cho họ. Để tiếp nhận những đối tượng này, trường thiền đầu tiên nằm trong một tòa nhà văn phòng ở thủ đô Rangoon được thành lập và sau đó là ngôi làng Thabarwa.

Những đối tượng như người nghèo, đến mức chẳng có nhà cửa và công việc, người mắc bệnh nan y, rất nặng như HIV hay bại liệt, và cả tệ nạn xã hội như nghiện ngập, trộm cắp, người bị gia đình bỏ rơi, trong đủ mọi tình trạng từ già yếu sắp chết …là cư dân chính của ngôi làng đông hàng vạn người này.

Đông thứ hai nhưng thực chất chỉ có khoảng trăm người là đội ngũ tình ngyện viên, tự nguyện đến ở và làm việc tại ngôi làng. Họ cũng sinh hoạt trong những điều kiện kiểu phòng trọ tập thể, chật, tối, bẩn và đơn giản đến khó hiểu với người Việt Nam.

Bản thân Ottamasara cũng chia sẻ tất cả những điều kiện sinh hoạt với những người ông giúp. Ông không trầm mặc hay béo tốt như nhiều thiền sư khác, mà gày còm, viêm họng thường xuyên và bận túi bụi.

Hành thiền để xin chỗ ở

Thật hiếm hoi ở Myanmar và có lẽ trên toàn thế giới, có ai đó như Ottamasara đứng lên tuyên bố và thực hiện chính xác nguyên tắc rằng tất cả mọi người đều sẽ được giúp đỡ. Ai đến với khu làng đều được sắp xếp chỗ ở, hỗ trợ việc ăn uống, khuyến khích hành thiền và nghe pháp hàng ngày, không với bất kỳ chi phí nào. Thế thì đương nhiên người đổ đến xin được giúp sẽ đông như kiến.

Nhà ở tại Thabarwa được cung cấp cho những người nghèo khổ và bệnh tật tới xin một chỗ nương thân, vô điều kiện, nói đúng hơn là chỉ với một điều kiện rằng người xin được cấp chỗ ở tại ngôi làng cần có mặt để hành thiền và nghe pháp trong vòng 7 ngày ở phòng thiền chung của làng.

Phòng thiền chung là một công trình xây dựng hai tầng kiên cố, có mái tôn, nhưng không có tường bao, với sức chứa khoảng vài trăm người. Dân của khu làng đến thiền ở tầng trên, còn tầng trệt dành cho những người đến xin cấp chỗ ở tại làng. Tầng trệt chẳng có gì ngoài hai cái cầu thang lớn dẫn lên tầng trên, nên trông giống như một cái hầm trống. Cảnh sinh hoạt trong 7 ngày đầu tiên của những người nghèo dưới chân hai chiếc cầu thang này khiến tôi liên tưởng tới một khu ổ chuột dưới gầm cầu. Những cặp vợ chồng quần áo rất bẩn thỉu, hầu hết với trẻ nhỏ túm tụm với nhau. Thật khó mà biết là họ đang ăn, ngủ, hay thiền trên những manh chiếu được rải ra tạm bợ và la liệt trên sàn si măng ẩm và bẩn trong mùa mưa Myanamar. Không có bất kỳ ai dạy cho họ thiền như thế nào và cũng chẳng ai hỏi họ kết quả thiền ra sao.

Rất nhiều người nghèo khổ đến với Ottamasara vì họ biết chắc chắn ông không bao giờ từ chối giúp đỡ. Người bị bệnh nan y như AIDS hay người sắp chết được đưa đến đây bởi chính những người thân vô cảm của họ hay người lạ trông thấy họ động lòng thương cảm đều được ở lại Thewabar, vô điều kiện. Rất nhiều người vô gia cư hoặc có những chỗ ở tạm bợ, thậm chí bán nhà đang ở đi để xin được định cư tại Thabarwa đều được tiếp nhận. Có người đến xin đất làm nhà rồi lại bán đất đi lấy để lấy tiền, nhưng Ottamasara chỉ đến gặp và giảng pháp cho họ nghe.

Phần lớn người nghèo và gia đình nghèo đến với Ottamasara ban đầu chỉ để có nơi ở và cái ăn. Pháp và thiền là những khái niệm xa lạ. Nhưng sự đổi thay của họ cũng như sự phát triển của ngôi làng là một sự thật quá rõ nét. Hàng vạn người đã được đổi nhà, đổi việc và đổi cả tâm tính nhờ sống trong môi trường mà hành thiền và hành thiện trở thành sinh hoạt hàng ngày như ăn và ngủ.

Đây có lẽ là nơi hành thiền tập thể ầm ỹ nhất, đông nhất, bẩn nhất nhưng mà kỳ diệu nhất mà tôi từng đến. Ở đó chấp ngã của lý trí tan chảy, dưới sức nóng của trái tim nhân ái và hành động giúp đỡ lẫn nhau.

Anh chàng Mexico

Một trong những người đầu tiên tôi gặp ở ngôi làng này là một anh chàng Mexico cao kều, đang dọn đồ ra khỏi phòng. Để có chỗ ở cho chúng tôi, anh phải chuyển khỏi nhà khách của làng Thabarwa để đến khu khác có điều kiện kém hơn. Vớ được cô nàng vừa nói tiếng Anh vừa ngơ ngác, anh chàng rất vui mừng. Tưởng chỉ chào nhau một câu, thế mà anh chàng dừng lại ba hoa với tôi hơn một giờ. Rồi ngày nào sau khi rời phòng thiền, tôi cũng thấy anh ấy đợi sẵn, để kể cho tôi về trải nghiệm của anh ấy với việc hành thiền tại Thabarwa. Không khí ở làng thiền này quả khác xa với trung tâm thiền khác của Myanmar nơi mọi người được yêu cầu giữ yên lặng tương đối hoặc tuyệt đối.

Anh bảo tôi rằng mình là kẻ nghiện ngập và mê phụ nữ. Anh ấy đi du lịch khắp nơi và ở đâu anh ấy cũng chỉ quan tâm đến phụ nữ. Trước chuyến đi này, anh ở Thái Lan trong ngôi nhà của một người phụ nữ quen qua mạng internet. Bà ấy mời anh ta đến du lịch Thái Lan, và ở lại nhà mình thay cho khách sạn, để thử yêu nhau xem sao. Rất nhanh, chàng Mexico trẻ thấy mình không hợp với bà Thái Lan già, và thế là anh ta dứt áo ra đi.

Ở miền nam Thái Lan, anh chàng gặp mấy cô gái Hàn Quốc trẻ và thú vị hơn nhiều. Các cô lại rủ anh chàng đi chơi, anh ta thích lắm nhưng trục trặc làm sao mà không đi được. Có một bức tượng Phật ở trong một ngôi chùa tại Bangkok, gần nhà người phụ nữ già, dường như gây ra một ấn tượng kỳ lạ gì đó với anh chàng.

Anh ta cứ nghĩ mãi đến đức Phật và loay hoay một hồi thì thấy mình ở Myanmar. Tại sân bay Rangoon, anh ấy được cho địa chỉ của một thiền viện. Giống như một người nước ngoài đến trung tâm thiền để du lịch trải nghiệm, anh ta gọi điện đến thiền viện nhưng bị từ chối.

Sau đó anh có địa chỉ của Thabarwa, nơi không từ chối bất kỳ ai. Và thế là anh có mặt ở đây.

Thiền đi, trải nghiệm đi, hành động đi

Trước khi qua Myanmar, anh ta chưa thiền bao giờ. Tại Mexico, anh được vài người bạn rủ đến một trung tâm thiền kiểu Tây Tạng. Anh ngại ngùng vì thấy mình quá xấu xa để đến cái nơi thanh tĩnh và thần bí đó. Anh chưa quan tâm đến thiền, nên cứ lần lữa mãi.

Anh chàng Mexico đến gặp Ottamasara. Ngài này bảo anh “thiền đi, trải nghiệm đi, hành động đi”. Thế là anh bắt đầu ngồi thiền. Ngày đầu tiên, chân đau và người mỏi. Anh đến gặp thiền sư. Vị ấy lắng nghe rất chăm chú rồi lại bảo anh “thiền đi, trải nghiệm đi, hành động đi”. Hôm sau anh lại đến gặp thiền sư kể về những vấn đề khác. Vị ấy lại lắng nghe chăm chú và lại nói “thiền đi, trải nghiệm đi, hành động đi”. Anh lại tiếp tục. Cứ như thế vài lần nữa.

Tại phòng thiền, những người chăm chú làm việc của mình, mặc kệ người khác là cư dân của Thabarwa. Những người vừa thiền vừa mở mắt ra nhìn khung cảnh lộn xộn xung quanh hoặc hỏi han về cách hành thiền do cảm giác bị bỏ mặc, là người mới đến, thường là bị sốc trước một môi trường thiền quá khác với kỳ vọng. Anh chàng Mexico nhanh chóng thấy mình là thành viên của Thabarwa.

Anh không quan tâm phải thiền thế này hay thế khác nữa. Anh đã biết rằng thiền sư, thiền sinh và những người nghèo ngồi la liệt ở tầng trệt của phòng thiền chung, chẳng ai quan tâm phải thiền theo phương pháp cụ thể thế nào. Thế mà họ vẫn thiền được thì vì sao anh phải quan tâm.

Anh chàng cứ đi qua hết trải nghiệm này đến trải nghiệm khác như chân đau, lưng mỏi, buồn ngủ, muốn mở mắt, buồn chán, hứng thú, suy nghĩ vẩn vơ, chẳng nghĩ ngợi gì … Mỗi lần định dừng thiền hay chán nản thì anh lại nhớ câu nói của Ottamasara “thiền đi, trải nghiệm đi, hành động đi”. Và anh lại tiếp tục.

Một phần của anh bắt đầu quan sát trải nghiệm của mình và suy tư về chúng, mặc dù một phần khác vẫn cứ tiếp tục đủ thứ đau, mỏi, vui buồn và nghĩ suy. Có một sự biết, sự hiểu càng ngày càng sâu đến một cách tự nhiên sau các trải nghiệm càng ngày càng nhiều lên. Có một sự lắng đọng vào bên trong khi anh quan sát và suy ngẫm về chính mình.

Anh bỗng nhìn nhận lại cả quãng đời đã qua với đầy các sự kiện - tuổi thơ, mẹ cha, học hành, công việc, yêu đương, du lịch ...Trước đây, anh chưa bao giờ đặt câu hỏi về cuộc sống của cá nhân, đơn giản chỉ mê mải chạy theo nó. Bây giờ anh thấy anh không thực sự hiểu cuộc sống của mình, anh cũng không thực sự yêu thích nó. Anh muốn thay đổi.

Lúc mới đến Thabarwa anh nghĩ mình sẽ chỉ ở đó ngó chơi vài ngày. Nhưng anh đã ở lại một tuần và anh hủy toàn bộ kế hoạch du lịch của mình, với ý định sẽ ở lại đây một tháng.

Hành thiền và hành thiện là việc cần thiết. Phương pháp và Niết Bàn, khi cản trở việc hành thiền và hành thiện, chỉ là tên gọi của những ham muốn bản ngã gắn với nơi chốn và cách thức.

Anh nói với tôi rằng anh cảm ơn Ottamasara rất nhiều. Với anh, vị thày này là đức Phật. Nhờ người thày dạy không dạy, mà anh chàng học mà không học được thiền mà không thiền hàng ngày. Nếu gặp phải thày khác, chắc hẳn anh sẽ không bao giờ hành thiền mà chỉ nhét thêm vài khái niệm hay kỳ vọng vào đầu mà thôi.

Thực hành buông bỏ

Khẩu hiệu ở Thabarwa là làm cái ta cần, không phải cái ta muốn, mà đã không có ham muốn, thì cũng không còn mối quan tâm về nơi chốn, cách thức, đối tượng, tên gọi, … Mọi người ở đó đều thực hành khẩu hiệu đó thông qua việc hành thiền và giúp đỡ lần nhau trong bất kỳ điều kiện nào. Dân làng được Ottamasara hướng dẫn rằng hành thiền và hành thiện liên tục không ngừng, không nghỉ là cách tu tốt nhất. Họ làm theo vì niềm tin.và vì thấy kết quả rõ nét ở người đi trước.

Bây giờ ngày nào anh chàng Mexico cũng tham gia đủ mọi hoạt động của khu làng, liên tục quan sát và liên tục xoay xở mà không hỏi làm thế nào nữa. Một ngày anh chặn tôi lại để kể về trải nghiệm đi bát, nghĩa là cùng đoàn tu sỹ của Thabarwa đi khất thực theo truyền thống của Myanmar. Anh cầm bát và bước đi y hệt như những vị tăng khác trong đoàn và rất ngạc nhiên khi không nhận được chút thức ăn nào. Nhận ra sự bối rối và lo lắng của anh khi cố gắng bắt chước cho giống những người khác hơn nữa nhưng vẫn thất bại, một vị sư đã dừng lại, chỉnh tư thế và cái bát của anh một chút. Bỗng nhiên, những người đi đường mỉm cười và đồng loạt cho anh thức ăn. Anh chợt nhận ra những thói quen và kỳ vọng ăn sâu trong mỗi người đã ngăn cản họ tự kết nối với chính mình và kết nối với người khác ra sao. Anh cảm nhận được sự chia sẻ và xúc động vì lòng biết ơn.

Tôi thấy anh đã giữ được sự quan sát, sự suy ngẫm về bản chất tâm thức của các hiện tượng bên ngoài. Anh đã quay vào bên trong ngay cả khi đi ra bên ngoài. Anh đã giữ được chánh niệm trong cuộc sống bình thường. Anh đã giữ được tâm thiền ở bên ngoài phòng thiền. Anh đã thực hành thiền vô điều kiện.

Ottamasara bảo mọi người hành thiền liên tục nhưng không chỉ phương pháp cũng chẳng phân tích về tâm thiền. Ông chỉ tạo ra một phòng thiền và lịch thiền hàng ngày. Ottamasara bảo mọi người hành thiện không ngừng, nhưng cũng chẳng hướng dẫn hành thiện như thế nào. Ông bảo “làm chỉ là làm thôi”, “thiền chỉ là thiền thôi”, “trải nghiệm chỉ là trải nghiệm thôi”, chẳng có thiền thế này thế khác, trải nghiệm thế này thế khác.

Với hàng vạn người nghèo khổ từng ngày từng giờ đối mặt với ăn, mặc, ở và những dòng người tiếp tục đổ đến xin giúp đỡ do nguyên lý giúp đỡ vô điều kiện của Ottamasara, ngôi làng Thabarwa trở thành một môi trường hành thiện và hành thiền đầy thách thức và biến động.

Bởi vì quá nhiều việc để làm và quá nhiều người cần giúp, mỗi người đều phải tự giúp mình, sẵn sàng nhận giúp đỡ và cho đi sự giúp đỡ không điều kiện. Mỗi cá nhân phải giữ vững sự quan sát và nỗ lực làm những việc cần thiết nhất. Mỗi người tự buông bỏ dần những quan kiến cá nhân như sở thích, kỳ vọng, kinh nghiệm, kế hoạch cùng nỗi ám ảnh phải kiểm soát những thứ cụ thể như thời gian, nơi chốn, các thức, đối tượng.

Ottamasara không dạy về vô ngã hay chấp ngã. Ông chỉ làm gương và dẫn dắt người khác theo ông để hành thiền và hành thiện. Khi hành động liên tục trong mọi hoàn cảnh … con người tự trải về cuộc đời, tự hiểu về vô thường và tự buông chấp ngã. Hành thiền và hành thiện vô điều kiện do đó chính là con đường tu tâm tốt nhất.

Mục đích cuộc đời

Anh chàng Mexico nói với tôi rằng bức tượng Phật trong căn phòng khách ở Thabarwa nhắc nhở anh điều gì đó, y như là bức tượng Phật anh đã gặp ở Thái Lan. Thế là, ngày nào anh chàng gốc thiên chúa giáo đã cải sang tôn giáo của người Maya cũng quỳ lạy đức Thích Ca để xin ngài cho biết mục đích cuộc đời. Anh bảo với đức Phật rằng “Tôi không cần mục đích của tôi, hãy cho tôi mục đích của ông”.

Tôi đùa rằng đức Phật gửi tôi đến để giúp anh, mà trong lòng vô cùng xúc động. Một tâm hồn tha thiết hướng thượng và buông bỏ chấp ngã mới có thể thốt ra câu nói ấy. Hôm đó, tôi đã ngồi thiền cùng với anh để giúp anh kết nối với siêu thức. Anh ấy nhận được thông điệp rằng mình sẽ là một nhà chữa trị hàn gắn. Anh còn nhận được hình ảnh tương lai về một buổi thiền tập thể mà tôi ngồi giữa. Tôi hiểu thông điệp của nó là tôi sẽ cần dạy thiền nhiều hơn. Hình như đức Phật cũng gửi anh đến để giúp tôi. Đúng hơn là chúng tôi được gặp nhau để giúp nhau nhờ sư trợ duyên của đức Phật.

Tôi đã gặp rất nhiều người đến với tôi để hỏi về mục đích cuộc đời của họ. Nhưng điều mà họ thực sự bị ám ảnh không phải ý nghĩa cuộc đời mà là “cách thức đảm bảo thành công của bản thân”. Họ không cần có thêm mục đích cùng cách thức, mà phải bớt đi sự ích kỷ cùng chấp ngã.

Ottamasara không dạy về vô ngã hay chấp ngã. Ông chỉ làm gương và dẫn dắt người khác theo ông để hành thiền và hành thiện. Khi hành động liên tục trong mọi hoàn cảnh … con người tự trải về cuộc đời, tự hiểu về vô thường và tự buông chấp ngã. Hành thiền và hành thiện vô điều kiện do đó chính là con đường tu tâm tốt nhất.

Học mà không học

Tôi chợt hiểu vì sao chuyến đi học thiền kết thúc tại Thabarwa, và hình ảnh tương lai về một buổi dạy thiền.

Trong một buổi thiền tháng 05/2014, tôi nhận được thông điệp đi Myanmar. Tôi dừng hết công việc giảng dạy và dẫn thiền, chữa trị hàn gắn và có mặt ở Myanmar tháng 06/2014.

Tôi bắt đầu cuộc phưu lưu ở một thiền viện có cách dạy dỗ vừa chi tiết và vừa hàn lâm về phương pháp và trải nghiệm thiền mà các thiền sinh cần phải đi qua. Tôi được chứng kiến hàng loạt vấn đề của các thiền sinh, xuất phát từ sự mất cân bằng tâm lý và sức khỏe, do có quá nhiều kỳ vọng cùng thất vọng, sợ hãi cùng thích ghét, phân tích cùng so sánh, đặc biệt là sự căng thẳng do chú tâm. Hành thiền biến thành ham muốn đi lên Niết Bàn và ám ảnh tìm kiếm ánh sáng.

Một ngày giữa phòng thiền đẹp đẽ, đầu óc trở nên hoang mang dữ dội trong một cơn lũ những phân tích và phán xét về phương pháp thiền được dạy, tôi đã hỏi đức Thích Ca rằng "Cha ơi, thế con cần thiền cách nào và con phải làm gì đây ?" Tôi không hiểu vì sao tôi được dẫn dắt đến nơi này chỉ để hoang mang. Cả phòng thiền biến thành vàng kim khi nhận một cơn thác năng lượng tuyệt đẹp từ trên đổ xuống. Đó là một cơn lốc mạnh mẽ, của lớp lớp xoáy trôn ốc hình tròn, chứa những hình tam giác bên trong. "Tất cả đều là một". Tôi biến thành nước mắt.

Tôi như được hồi sinh khi đến Shwe Oo Min, nơi chỉ dạy nguyên lý quan sát tự nhiên và chỉ ra cái gì không phải là tâm thiền. Ở đó, tôi đã thiền cùng một vị sư. Gặp cha Thích Ca và mẹ Quán Thế Âm, người ấy hỏi phải học thiền thế nào và được trả lời rằng tôi (Huongclass) sẽ dạy. Quá sốc, tôi bèn xin hướng dẫn. Nụ cười của Thích Ca rất ấm áp. Nụ cười của Quán Thế Âm thì dịu dàng. Nhưng cả hai đều im lặng. Đã quen với sự im lặng và những nụ cười này, nên tôi cũng không hỏi nữa tuy thắc mắc vẫn còn nguyên.

Một ngày mẹ Quán thế âm bất ngờ dặn tôi "Tất cả đều phải học buông bỏ" rồi nhắn nhủ tôi gặp Ottamasara. Cuối cùng tôi cảm nhận như được trở về nhà ở Thebarwa, nơi đi rất xa trong việc thực hành buông bỏ sự bám víu vào phương pháp và cùng với nó là chấp ngã trong hành thiền.

Nếu không tự bắt đầu thực hành thiền một cách ngẫu hững mà như sắp đặt. Nếu không đi qua các trường thiền theo một trình tự vô tình mà như được dẫn dắt. Tôi đã không đủ mở lòng cho mọi trải nghiệm xảy ra cũng như đủ sức buông bỏ trong việc hành thiền và dạy thiền.

Thabarwa giúp tôi nhận ra cái vòng tròn mà tôi đã đi từ giây phút đặt chân đến Myanmar đến lúc đó : Chấp ngã - Trải nghiệm vô điều kiện - Buông bỏ. Đây cũng là cái vòng tròn tôi đã đi từ ngày đầu tiên ngồi khoanh chân, nhắm mắt và tự hỏi thiền là gì cho đến hôm nay. Đó cũng la vòng tròn luân hồi, vòng tròn tiến hóa.

Dạy mà không dạy

Là người tự hành thiền, tôi đã mày mò rất nhiều phương pháp khác nhau, và đã đi qua rất nhiều trải nghiệm khác nhau. Tôi nhận ra rằng điều quan trọng là thực hành thiền và trải nghiệm trạng thái thiền một cách tự nhiên như chính bản thân mình, chứ không phải là biết cách thiền như thế nào và tìm kiếm một trạng thái thiền ra sao.

Đúng là mỗi người có căn cơ khác nhau, nên phù hợp hơn với một số phương pháp thiền khác nhau. Tuy nhiên, không phải sự may mắn tìm được kỹ thuật tốt nhất giúp việc hành thiền thành công, mà nỗ lực thực hành đều đặn nhưng tự nhiên sẽ đưa một người đến những pháp thiền phù hợp. Phương pháp sẽ tìm người, chứ người không cần tìm phương pháp. Việc này sẽ xảy ra một cách tự nhiên, khi tâm thiết tha học hỏi.

Khi bắt đầu hướng dẫn những người khác thực hành thiền, tôi suy nghĩ rất nhiều về việc nên chọn phương pháp nào cho cả nhóm đây. Người chưa thiền bao giờ thì kỳ vọng rằng họ đến với tôi để học một phương pháp thiền nào đó, rồi sẽ bắt đầu thực hành thiền. Người đã thiền rồi thì kỳ vọng rằng họ đến với tôi để học một phương pháp mới và thực hành nó để có trải nghiệm tốt hơn những gì họ đã có.

Nhưng cũng chính trong giai đoạn đầu này, người học chẳng nên quan tâm đến phương pháp, mà chỉ cần chuyên tâm thực hành. Tâm mong cầu, tâm kỳ vọng, tâm sợ hãi, tâm phân tích sẽ ngăn cản họ tìm về với bản chất tự nhiên của chính mình. Tâm chấp ngã về tư thế, thời gian, địa điểm, đặc biệt là phương pháp sẽ ngăn cản thiền sinh đến với bản chất tự nhiên của thiền.

Tôi cũng phát hiện ra rằng phần lớn mọi người đến với các buổi thiền của tôi đã thực hành thiền rất thuần thục trong tiền kiếp, khi mà họ chẳng có thày. Một ngày ở nhà họ đơn giản nhắm mắt. Hoặc một ngày họ lên núi, ngồi cạnh một cái cây. Và họ thiền. Thế thôi. Thiền dường như là việc tự nhiên giống như hơi thở mà trong tiềm thức ai cũng biết.

Phương pháp thiền của tôi là không có phương pháp. Nói một cách bóng bảy là thiền tùy duyên, còn nói cách thẳng thắn theo ngôn ngữ vi diệu pháp là trải nghiệm thiền vô điều kiện. Nói như cách của tôi là thiền tự nhiên. Cùng những người thấy cần phải thiền, chúng tôi cùng thiền. Rồi chúng tôi cùng chia sẻ trải nghiệm thiền của cá nhân mình, và cùng hiểu ra mình là như thế và thiền là như thế.

Tự thực hành thiền không theo hẳn phương pháp chặt chẽ nào là việc tự nhiên với hầu hết những người hành thiền lâu năm. Nhưng nếu không gặp Ottamasara thì tôi cứ tưởng trên thế giới chẳng ai dạy thiền theo phương pháp đó. Cho nên tôi đã rất ngần ngại khi dạy thiền.

Thiền mà không thiền

Tôi ngạc nhiên khi được nghe những tình nguyện viên kể về thời gian Ottamasara đi từ gia đình này đến gia đình khác để giảng pháp, như là tôi bây giờ đi từ tỉnh này đến tỉnh khác dạy về con người và tiến hóa đa chiều.

Tôi càng ngạc nhiên hơn, khi cầm bản thảo cuốn sách đang viết dở của ngài có tiêu đề là. .. Buông bỏ.

Suy cho cùng phương pháp dạy thiền qua trải nghiệm trực tiếp mà không giải thích trước về kỹ thuật cũng có nhiều điểm tương đồng với phương pháp dạy thiền tự do của tôi, về bản chất đều thống nhất với nguyên lý "nhận thức hiện thực như nó đang là" mà đức Thích Ca đã dạy, dù Ottamasara là thiền sư còn tôi là chỉ người đi ngang qua thiền viện.

Những con đường khác nhau nhưng tất cả đều là một. 

Tất cả đều là một

Tôi đã nghĩ, nghĩ mãi về thông điệp "Tất cả đều là một" của cha Thích Ca. Tôi đã thử xoay xở nhiều phương pháp thiền trong thời gian bế tắc ở thiền viện đầu tiên, tự an ủi mình rằng cách thiền nào cũng thế. Rồi tôi lại tự vấn bản thân rằng nếu mọi cách thiền đều như nhau, sao tôi không thiền được theo phương pháp được giảng dạy chi tiết ở đó.

Tôi đã nghĩ, nghĩ mãi về thông điệp "Tất cả đều phải buông bỏ" của mẹ Quán thế âm. Tôi đã làm tan biến từcơ thể, xúc cảm, tình cảm, lý trí, và cuối cùng chính bản thân tôi nữa qua các buổi thiền. Và chính trong giây phút hòa nhập vào vạn vật quanh mình, tôi thấy rõ ràng tôi là cơ thề vật lý, là xúc cảm, là tình cảm và là lý trí của tôi. Tôi đã ảo tưởng về một trải nghiệm tâm không, sau cùng mọi trải nghiệm.

Và thế là, tôi lại quay về tự thiền theo cách của tôi.

Đó chính là vòng tròn cuộc đời, từ đứa trẻ trở về đứa trẻ. Đó là vòng tròn tiến hóa, từ tự nhiên trở về tự nhiên. Tất cả đều là một.

Đó chính là mục đích của thiền, từ vô ngã trở về vô ngã. Hành thiền vô điều kiện. Trải nghiệm thiền tự nhiên.

Thiền như là thở

Có sống thì mới có thở hay có thở rồi mới có sống ? Có minh triết mới hành thiền hay hành thiền mới minh triết. Thiền cũng như là thở thôi. Lý luận thở trước hay sống trước làm gì ? Lý luận minh triết trước hay thực hành trước làm gì ?

Nhiều người bảo tôi sẵn sàng thực hành, tôi muốn thực hành lắm, nhưng không biết thực hành cách nào tốt nhất. Lý luận thở như thế nào tốt nhất cũng được ! Nhưng mà cứ thở đã, rồi mới đủ sức mà lý luận. Lý luận thiền thế nào tốt nhất cũng được ! Nhưng lý luận nhiều quá, hết thời gian mà thiền.

Người ưa lý luận dông dài mà không thực hành, nghĩa là chỉ ham muốn được nói, được thể hiện kiến thức, được thể hiện cái tôi. Thiền chẳng qua là một đối tượng, như những đối tượng khác, để bình luận, phát xét thôi. 

Thiền và thở đều là cho nhận năng lượng, phát triển sự sống. Nhảy xuống nước, không thở được thì sẽ phải lên bờ hoặc chết đuối. Nhảy xuống luân hồi, không thiền được thì sẽ đầu thai đi, đầu thai lại hoặc thoái hóa.

Cái bể luân hồi rất lớn, và tất chúng ta đang ngụp lặn sẵn trong đó rồi. Nếu muốn qua bến bờ bên kia, cần đủ sức bơi.

Cuộc sống và tiến hóa, thiền và thở đều là những quá trình có sự thay đổi liên tục. Những người mới nhảy xuống bể luân hồi hoặc còn loanh quanh ở bờ bên này, có thể chưa cần thiền, chỉ cần thở. Những người ngụp lặn trong luân hồi lâu lắm rồi, đang ở giữa biển mênh mông hoặc đã gần tới bờ bên kia, thở thôi chưa đủ, thiền nữa sẽ có thêm sức. Những người không muốn qua luân hồi, không tin có thể qua luân hồi, không hiểu rằng có luân hồi, nhưng nếu thấy thiền là có ích thì cứ thiền thôi.

Cuộc sống và hành thiền đều là sự lựa chọn của mỗi cá nhân. Mỗi người tự sống cho mình, cho hiện tại, đâu phải sống cho người khác, cho tương lai. Mỗi người tự thở cho mình, cho hiện tại, đâu phải thở cho người khác, cho tương lai. Mỗi người tự thiền cho mình, cho hiện tại, đâu phải thiền cho xã hội hay cho Niết bàn.

Thiền và thở, hành thiền và giác ngộ là những quá trình tự nhiên và đan xen vào nhau. Hơi thở này qua đi, hơi thở sau lại tới. Khi nào ngạt thở quá, tự nhiên thiết tha được thở. Muốn qua biển luân hồi, tự thực hành thiền thôi.

Thiền là như thế

Hãy thiền với tâm tự nhiên, tâm tùy duyên, tâm trân trọng, tâm hiện diện.

  • Đừng mong cầu một cảm nhận, một ánh sáng, một trạng thái kể cả tâm không, niết bàn hay hư vô.
  • Đừng phán xét đối tượng bao gồm trải nghiệm, buổi thiền và bản thân 
  • Đừng ham, đừng ghét, càng đừng sợ hãi
  • Đừng phủ nhận, bám víu, vật lộn, cưỡng bức bất kỳ trải nghiệm nào
  • Đừng kỳ vọng

Nếu ham ghét xảy ra và sợ hãi xảy ra, nếu mong cầu xảy ra, nếu ánh sáng xảy ra, nếu bóng tối xảy ra, nếu phán xét xảy ra, nếu phủ nhận xảy ra, nếu ham thích xảy ra..., hãy quan sát chính cái tâm sợ, tâm ghét, tâm cầu mong, tâm phán xét, tâm cưỡng lại, tâm lao theo, tâm kỳ vọng...Hãy lùi sâu hơn nữa vào tâm để cảm nhận trải nghiệm và hiện thực như nó đang là. Chừng nào còn lùi được, còn quan sát được là còn thiền được.

Hãy quan sát, hãy lắng nghe, hãy ghi nhận, hãy cảm nhận. Trải nghiệm tự nhiên qua quan sát tự nhiên, lắng nghe tự nhiên, ghi nhận tự nhiên, cảm nhận tự nhiên sẽ được được tích tụ để trở thành

                  ...... sự thấu hiểu,

                         ...... tình yêu vô điều kiện và

                                ..... sự hòa hợp trong các lớp tâm.

Hãy hiện diện trong hiện tại với thiền. Đó chính là sự chuyển hóa từ hành thiền đến tâm thức thiền.

Hãy để hiện tại là như thế

         ....trải nghiệm là như thế

                    .... ta là như thế, và

                         .... thiền là như thế.

BANNERDANGKYresize

bannertinhnguyenresize

BANNER8

BANNER7.7

banner1

BANNER2.2

BANNER3.3

BANNER4.4

BANNER5.5

BANNER6.6

Disclaimer: Nội dung của website này được viết ra phù hợp với nhận thức và quan điểm riêng của tác giả. Tuy nhiên,đây không phải một công trình nghiên cứu khoa học, tâm linh hay tiểu thuyết. Những thông tin này không thể đầy đủ, hoàn thiện hoặc phù hợp với mọi đối tượng. Tác giả có thể thay đổi thông tin trên website bất kỳ lúc nào.
 huongclass@gmail.com: Email
0936600363: Điện thoại
P203, khu tập thể BTC TW, 267 Hoàng Hoa Thám, Hà Nội: Lớp học